HOTLINE : 0902.910.699 - ZALO & 0908.000.343

 
 

Vì Sao Người Chết Sau 49 Ngày Mới Đi Đầu Thai ?

Con người chết rồi sau khi thần thức lìa khỏi thể xác trước lúc chưa đi đầu thai, ví như người từ trong nhà bước ra ngoài nhưng chưa vào nhà khác vẫn còn ở trung gian, đây là chỉ ý nghĩa thân trung ấm. Người nào có tín sâu, nguyện thiết, tinh tấn niệm Phật khi mới chết ngay đó liền vãng sanh Tây phương, hoặc người có căn lành sâu dày thì trực chỉ sanh về cõi trời, hoặc kẻ tạo ác nghiệp nặng liền đọa vào Địa ngục Vô gián, ba hạng người này là không trải qua gian đoạn thân trung ấm. Hạng người phổ thông bình thường đã không phải cực thiện cũng không phải cực ác đều phải trải qua giai đoạn thân trung ấm. Thời gian thân trung ấm thọ sanh có nhanh chậm không đồng. Nhanh thì trong khoảng khảy móng tay liền đầu thai vào một trong sáu đạo luân hồi, chậm thì khoảng bốn mươi chín ngày hoặc hơn bốn mươi chín ngày.

Hỏi : Duyên cớ gì con người sau khi chết không đi đầu thai mà phải rơi vào giai đoạn thân trung ấm, trải qua bốn mươi chín ngày mới đi đầu thai?

Đáp : Bởi do người chết trong nhiều đời nhiều kiếp quá khứ đã tạo các nghiệp thiện ác lẫn lộn. Trong vọng tâm vô minh nghiệp thức đó, một niệm lành một niệm ác cứ sanh rồi diệt diệt rồi lại sanh khiến nghiệp thiện ác liên tục không phân định. Nếu như trụ vào nghiệp thiện, tâm này thuần thiện thì do trong tâm thiện phát hiện ra cảnh giới lành Thiên,Nhân, A tu la tâm thức này tùy theo nghiệp lành đó mà đi đầu thai. Nhưng vì, trong tâm thiện cũng có duyên thượng phẩm thiện, trung phẩm thiện, hạ phẩm thiện mới cảm thành ba cõi Thiên, Nhân, A tu la không đồng nhau.

Nếu như trụ vào nghiệp ác, tâm này thuần ác do trong tâm ác phát hiện ra ba cảnh giới ác Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, trong tâm thức này tùy theo cảnh giới ác đó mà đi đầu thai. Nhưng vì trong tâm ác cũng có duyên thượng phẩm ác, trung phẩm ác, hạ phẩm ác mới cảm thành ba cõi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh không đồng. Nên biết, bởi có mối quan hệ tâm và cảnh tương đồng như thế,vì vậy người bà con ở trong thời gian bốn mươi chín ngày cần ăn chay niệm Phật thay hương linh tu tạo công đức, khiến người chết nương nhờ công đức đó mà tiêu trừ tội ác tăng trưởng phước lành, vãng sanh Tây phương hoặc siêu thăng trong cảnh giới Thiên đạo hay Nhân đạo.

Bằng như người bà con trong thời gian này không phát tâm ăn chay niệm Phật mà gây tạo các ác nghiệp như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu ăn thịt như thế túc nghiệp ( nghiệp đời trước ) người chết nếu là nghiệp lành sẽ chuyển thành nghiệp ác; như túc nghiệp người chết nếu là nghiệp ác thì nghiệp ác lại thêm tăng trưởng. Nên biết nghiệp ác nếu tăng thêm sẽ thành thượng phẩm ác, nghiệp đó nhất định khiến cho người chết đọa lạc vào Địa ngục vĩnh viễn chịu vô lượng sự thống khổ.

Hỏi : Nếu kinh tế gia đình khó khăn, mà bảo họ trong thời gian bốn mươi chín ngày ăn chay niệm Phật làm mọi công đức, e rằng cuộc sống của họ khó có thể duy trì được?

Đáp : Trong tất cả mọi công đức để hồi hướng cho người chết thì công đức niệm Phật là lớn nhất, nếu như gia đình kinh tế khó khăn lúc này không cần thỉnh Tăng Ni đến làm lễ, chỉ cần toàn gia quyến phát tâm ăn chay niệm Phật là đủ. Thời gian niệm Phật, quy định sáng sớm niệm Phật xong đối trước bàn thờ người chết hồi hướng rồi dùng cơm sáng. Buổi trưa niệm Phật trước hay sau bữa cơm tùy theo công việc bản thân sao cho thích hợp mà sắp xếp. Buổi chiều sau bữa cơm mới niệm Phật, niệm xong đối trước bàn vong mà hồi hướng, mỗi ngày quy định ba thời niệm Phật ba lần hồi hướng, thời gian còn lại khi làm công việc cũng nên cố gắng mặc niệm niệm Phật.

Phương pháp niệm Phật siêu độ người chết như thế, đối với cuộc sống kinh tế gia đình sẽ không bị ảnh hưởng. Phương pháp này vừa đơn giản nhưng lại tiện lợi hoàn toàn không chướng ngại cuộc sống mà công đức rất lớn. Gia đình lại có thể bình an thanh khiết, bà con mỗi người đều được phước đức mà người chết cũng được sự lợi ích vô cùng. Đây là phương pháp thù thắng làm cho cả hai người sống lẫn kẻ chết đều được sự lợi ích không thể nghĩ bàn.

 

Làm sao xác định được một người sau khi chết đi về cảnh giới nào?
Ðáp: Câu hỏi nầy, chúng tôi xin được giải đáp góp ý qua hai phương diện: “hết nghiệp và còn nghiệp”. về phương diện dứt hết nghiệp, tức không còn mầm mống sanh tử nữa, thì sau khi chết không có sanh đi đâu hết. Vì người tu khi đã đạt được cứu cánh Niết bàn rồi, thì hằng an trụ nơi thể tánh vô sanh. Đó là mục đích cứu cánh của người tu. Nếu còn sanh, chứng tỏ công phu tu hành của hành giả chưa viên mãn. Có lần, các vị Tỳ kheo hỏi Phật: Một vị A la hán sau khi chết sanh về đâu? Phật trả lời: “Như củi hết lửa tắt”. Củi là dụ cho nghiệp, lửa là dụ cho bản thể. Củi hết là dụ cho nghiệp không còn. Vì hễ còn nghiệp là còn sanh, hết nghiệp là hết sanh. Hiện tượng thì có sanh diệt, còn bản thể thì làm gì có sanh diệt? Như sóng thì có sanh, có diệt, còn chất ướt của nước thì không sanh không diệt. Như vậy, khi lửa tắt không thể nói lửa sanh về đâu. Cũng như sóng dừng, thì không thể hỏi sóng đi về đâu. Khi hiện tượng lặng dừng thì trở về bản thể, chớ không có sanh đi đâu hết. Tuy không sanh đi đâu, nhưng các Ngài vẫn tùy duyên ứng hóa. Do đó, mà chúng ta thấy chư Phật, Bồ tát thường ứng thân thị hiện khắp nơi để độ sanh. Đối với các Ngài sanh mà không sanh, diệt mà không diệt. Vì các Ngài không còn thấy có tướng sanh diệt, tới lui, như phàm phu chúng ta nữa.

Về phương diện còn nghiệp, sau khi chết, tất nhiên là còn sanh. Vì còn vô minh phiền não, tất nhiên, là còn có tướng sanh diệt, tới lui, đến đi. Luận về phương diện nầy, chúng tôi xin được y cứ vào Kinh điển Phật Tổ chỉ dạy để nêu ra ba luận cứ để chứng minh. 

1. Y cứ vào luật nhân quả:
Căn cứ theo luật nhân quả, hễ chúng ta gây tạo nhân nào thì sẽ gặt hái quả đó. Nếu như hiện đời chúng ta chuyên gây tạo nghiệp lành, thì sau khi chết tất nhiên là chúng ta sẽ thác sanh về cảnh giới lành. Kinh Pháp Cú Phật dạy:

Dục tri tiền thế nhân
Kim sanh thọ giả thị
Yếu tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị.
Nghĩa là:

Nếu muốn biết cái nhân đời trước của mình đã gây tạo như thế nào, thì hãy xem cái quả báo hiện tại mà mình đang mang đây. Nếu muốn biết cái quả báo đời sau của mình như thế nào, thì chúng ta hãy nhìn kỹ lại cái nhân hiện tại mà mình đang gây tạo. Như vậy, nếu hiện tại mình làm điều lành như bố thí, cúng dường, ăn chay, giữ giới, niệm Phật v.v… thì chắc chắn đời sau mình sẽ hưởng quả báo tốt đẹp.

Xin tạm nêu ra đây hai thí dụ cụ thể để Phật tử hiểu rõ hơn. Thí như anh B chuyên đam mê cờ bạc, hằng ngày anh ta thường hay đi vào casino để đánh bài. Đó là vì anh ta nghiện cờ bạc quá nặng. Khi không thấy anh ấy ở trong nhà, nếu muốn biết hắn ở đâu, thì cứ đi vào sòng bạc là sẽ gặp anh ta ngay. Sòng bạc là “quả ”, dụ cho cảnh giới mà anh B sẽ đến. Nghiện cờ bạc là “nhân”. Vắng nhà là dụ cho sau khi chết.

Một ví dụ khác, như có một Phật tử thường xuyên tới chùa tu học làm công quả hằng ngày, đó là nghiệp nặng đi chùa. Tất nhiên đây là nghiệp lành. Hành động thường tới lui chùa, đó là cực trọng nghiệp. Ngày nào không đi là không được. Chùa là dụ cho cảnh giới lành mà người Phật tử đến. Vắng nhà là dụ cho sau khi chết. Qua hai thí dụ đó, chúng ta thấy hướng tái sanh của người khi hiện đời tạo nghiệp lành hoặc dữ mà có sự thọ sanh khác nhau.

Tổ Qui Sơn có dạy: “Như nhơn phụ trái, cường giả tiên khiên”. Nghĩa là như người mắc nợ, ai mạnh thì đòi trước. Nghiệp nào mạnh thì sẽ lôi chúng ta đi trước để trả quả báo mà hiện đời chúng ta đã gây tạo. Thế thì, muốn biết đời sau mình tái sanh về cảnh giới nào, thì hãy cứ nhìn kỹ lại cái nghiệp nhân mà hiện đời mình đang gây tạo đây. Nếu đã gây nghiệp nhân ác mà muốn sanh về cảnh giới lành, thì điều đó là một nghịch lý, trái với luật nhân quả và sẽ không bao giờ có. Tuy nhiên, vấn đề nầy, còn tùy thuộc vào Cận tử nghiệp, tức cái nghiệp gần sắp chết. Nếu cả đời mình tu tạo nhân lành ( tích lũy nghiệp) mà đến giờ phút hấp hối sắp lâm chung, bỗng khởi một niệm ác, thì khi nhắm mắt, tất nhiên là chúng ta phải theo niệm ác đó mà chiêu cảm quả báo. Tuy rằng, sự trả quả báo của cận tử nghiệp thời gian không lâu lắm. Cuối cùng, cũng phải trở về với tích lũy nghiệp. Như vậy, cái tích lũy nghiệp không bao giờ mất.

2. Y cứ vào những thụy ứng:
Nếu y cứ vào những hiện tượng thụy ứng, chúng ta cũng có thể biết được người đó được vãng sanh về cảnh giới lành. Hiện tượng nầy, sách sử đã ghi lại có rất nhiều người tu theo Tịnh môn niệm Phật, khi lâm chung đã để lại thụy ứng (điềm lành gọi là xá lợi ) vãng sanh. Nếu Phật tử muốn biết rõ, xin đọc Mấy Điệu Sen Thanh do cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm biên soạn, sách gồm có hai tập: I và II, xuất bản ấn tống tại Sydney – Úc Châu, năm 1994. Và quyển Những Chuyện niệm Phật Vãng Sanh Lưu Xá Lợi, xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ, do cư sĩ Tịnh Hải sưu tầm.

3. Y cứ qua kinh nghiệm của các bậc Cổ Đức:
Theo kinh nghiệm của Cổ Đức chỉ dạy, khi người mới chết trong vòng vài tiếng đồng hồ trở lại, muốn biết họ thác sanh về cảnh giới nào, thì người nhà có thể lấy tay sờ vào những nơi ứng nghiệm như sau:

Nếu toàn thân lạnh hết mà chỉ có trên đảnh đầu còn nóng, thì biết rằng người đó sẽ sanh về cảnh giới Phật. Còn như nóng ở nơi con mắt, thì biết người đó sẽ sanh về cõi trời. Nóng ở ngực, thì sanh lại cõi người. Nóng ở bụng, thì sanh về ngạ quỷ. Nóng ở đầu gối, thì sanh vào loài súc sanh. Nóng ở dưới lòng bàn chân, thì sẽ sanh vào địa ngục. Do sự ứng nghiệm đó, nên Cổ Đức có làm bài kệ tóm tắt cho chúng ta dễ nhớ :

Đảnh Thánh nhãn sanh thiên
Nhơn tâm ngạ quỷ phúc
Bàng sanh tất cái ly
Địa ngục khước môn xuất.
Tạm dịch:

Thánh đầu, trời tại mắt
Người tim, ngạ quỷ bụng
Súc sanh hai chân xuống
Địa ngục bàn chân ra.

Tam Giới - Ba Cõi
Ba cõi cũng tức là vòng sinh tử luân hồi. Các kinh luận thường dạy rằng, tất cả mọi loài chúng sinh đều có sẵn khả năng giác ngộ (Phật tính), nhưng vì bị các kiến chấp sai lạc làm cho mờ tối nhận thức, khiến không tự phát hiện và thắp sáng được khả năng ấy, cho nên cứ phải quanh quẩn mãi trong ba cõi.

Còn ở trong ba cõi là còn bị phiền não chi phối. Chỉ khi nào đạt được quả vị giác ngộ thì mới được giải thoát ra khỏi ba cõi – tức là thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Ba cõi đó là:

1. Cõi Dục (Dục giới). “Dục” là ham muốn. Cõi Dục là cõi của thực phẩm, ước muốn vật chất và dục vọng thể xác. Chúng sinh trong cõi này vì đam mê theo các “thú vui” về sắc tướng, âm thanh, mùi hương, ăn uống, chạm xúc và dâm dục cho nên luôn luôn gây ra nhiều tội lỗi, tai họa và khổ đau. Các loài chúng sinh trong cõi Dục này gồm có: Người, A-tu-la, Địa-ngục, Ngạ-quỉ và Súc-sinh. Trong 5 loài này thì loài Người có tâm ý phát triển cao hơn hết, là cảnh giới có khổ đau và hạnh phúc lẫn lộn. Bởi vậy, các vị Bồ-tát thường chọn sinh vào thế giới loài Người, nơi có nhiều hoàn cảnh thuận lợi, để phụng sự chúng sinh và tu tập các pháp môn cần thiết sau cùng để thành tựu quả Phật. Cũng bao gồm trong phạm vi cõi Dục này còn có 6 cõi Trời, tuy hưởng được nhiều phước báo hơn loài Người, nhưng vẫn là những phước báo tạm bợ, và trí tuệ thì không hơn loài Người. Chúng sinh trong 6 cõi này vẫn có hình sắc, nhưng phần vật chất của họ vô cùng vi tế, mắt người thường không thể trông thấy được. Họ đều là hóa sinh, cũng mang hình thể nam, nữ, với đầy đủ các thứ dục vọng như con người. Sáu cõi Trời của cõi Dục (Lục Dục thiên) này, từ thấp lên cao gồm có: Tứ-vương, Đao-lợi (cũng gọi là cõi trời Ba-mươi-ba – tam thập tam thiên), Dạ-ma, Đâu-suất, Hóa-lạc và Tha-hóa-tự-tại.

2. Cõi Sắc (Sắc giới). “Sắc” là hình tướng, vật chất. Đây là cõi của các vị Phạm Thiên, có hình tướng, vật chất như thân thể, cung điện v.v..., nhưng rất vi tế, đẹp đẽ, tinh diệu. Các vị trời ở đây không có tướng nam nữ, không có tham dục như ở cõi Dục, chỉ sống trong thiền định. Tùy theo mức độ cao thấp của thiền định, cõi Sắc được chia làm 4 bậc, gồm 18 cõi Trời:

a) Cõi Sơ-thiền (Sơ-thiền thiên), gồm 3 cõi Trời: Phạm-chúng (các vị trời tùy tùng của các vị Phạm Thiên), Phạm-phụ (các vị trời thân cận các vị Phạm Thiên), Đại-phạm (các vị Phạm Thiên có nhiều hạnh phúc, đẹp đẽ, tuổi thọ cao nhất trong cõi Sơ-thiền). Các vị Phạm Thiên ở các cõi này có thân thể khác nhau, nhưng cách suy nghĩ thì đều giống nhau, và trong tám thức thì không còn có tị thức và thiệt thức hoạt động.

b) Cõi Nhị-thiền (Nhị-thiền thiên), gồm 3 cõi Trời: Thiểu-quang (các vị Phạm Thiên có chút ít ánh sáng), Vô-lượng-quang (các vị Phạm Thiên có ánh sáng vô cùng), Quang-âm (các vị Phạm Thiên có ánh sáng rực rỡ). Cõi Nhị-thiền này có rất nhiều ánh sáng. Các vị Phạm Thiên ở đây đều có thân thể giống nhau nhưng cách suy nghĩ thì khác nhau, và trong tám thức thì từ cõi Nhị-thiền này trở lên, cả năm thức cảm giác đều không còn hoạt động.

c) Cõi Tam-thiền (Tam-thiền thiên), gồm 3 cõi Trời: Thiểu-tịnh (có hào quang nhỏ), Vô-lượng-tịnh (có hào quang vô hạn), Biến-tịnh (có hào quang không xao động). Cõi Tam-thiền này mọi sự đều thanh tịnh, cả thân và tâm của các vị Phạm Thiên đều hoàn toàn giống nhau.

d) Cõi Tứ-thiền (Tứ thiền thiên), gồm 9 cõi Trời: Vô-vân (cảnh giới quang đãng), Phước-sinh (cảnh giới trường cửu), Quảng-quả (hưởng phước báo rộng lớn), Vô-phiền (hoàn toàn tinh khiết), Vô-nhiệt (hoàn toàn thanh tịnh), Thiện-kiến (cảnh giới đẹp đẽ), Thiện-hiện (hoàn toàn tự tại), Sắc-cứu-cánh (cảnh giới tối thượng), Vô-tưởng (không còn tư tưởng). Đây là cõi cao nhất của Sắc giới, chúng sinh sống trong cảnh giới thiền định sâu xa, hoàn toàn tịch tịnh, chẳng những năm thức cảm giác mà cả ý thức cũng không còn hoạt động nữa.

3. Cõi Vô-sắc (Vô-sắc giới).

Cõi này hoàn toàn không còn có vật chất, hình thể, cho nên cũng không có tướng nam nữ, không có dục vọng, mà chỉ thuần có nghiệp thức trú trong các cảnh giới thiền định thâm diệu. Đây là cõi cao nhất trong ba cõi, gồm có 4 cõi Trời:

a) Cõi Không-gian vô-biên (Không vô biên xứ thiên): Cảnh giới của các vị trời chỉ thấy có không gian vô biên, đã đạt được và đang an trú trong trạng thái thiền định gọi là không vô biên xứ định.

b) Cõi Tâm-thức vô-biên (Thức vô biên xứ thiên): Cõi chỉ thấy có tâm thức vô biên, là cảnh giới của chư thiên đã đạt được và đang an trú trong trạng thái thiền định gọi là thức vô biên xứ định.

c) Cõi Vô-sở-hữu (Vô sở hữu xứ thiên): Cõi này không còn có bất cứ một hiện tượng gì, là cảnh giới của chư thiên đã đạt được và đang an trú trong trạng thái thiền định gọi là vô sở hữu xứ định.

d) Cõi Phi-tưởng phi-phi-tưởng (Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên): Cõi này không có tri giác mà cũng không phải là không có tri giác, là cảnh giới của chư thiên đã đạt được và đang an trú trong trạng thái thiền định gọi là phi tưởng phi phi tưởng xứ định.

Trong sách Đức Phật và Phật Pháp (Phạm Kim Khánh dịch), hoà thượng Narada Maha Thera có nói: “Nên ghi nhận rằng đức Phật không nhằm mục đích truyền bá một lí thuyết về vũ trụ. Dầu những cảnh giới trên có hay không, điều ấy không ảnh hưởng gì đến giáo lí của Ngài. Không ai bị bắt buộc phải tin một điều nào, nếu điều ấy không thích hợp với sự suy luận của mình. Nhưng nếu bác bỏ tất cả những gì mà lí trí hữu hạn của ta không thể quan niệm được, thì điều ấy cũng không phải hoàn toàn là chính đáng.”


VU LAN TRUYỀN THỐNG CỦA ĐẠO HIẾU 

Cứ mỗi năm đến ngày Rằm tháng Bảy, tất cả người con Phật đều nhớ đến trách nhiệm báo ân báo hiếu đối với hai đấng sanh thành. Hàng Phật tử khắp năm châu bốn bể cùng nhau long trọng tổ chức đại lễ Vu Lan, nương vào uy đức ngôi Tam bảo, cầu nguyện cho cha mẹ còn sống được an lạc trong chánh pháp, cha mẹ đã qua đời siêu sinh về các cõi lành. Thương cha kính mẹ được coi như truyền thống tốt đẹp lâu đời của mỗi người dân Việt. Tình thương đối với cha mẹ luôn luôn là mối ân tình thiên liêng nhất.

Từ thuở xa xưa đến nay, tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên vẫn mãi mãi soi sáng, làm thắm đượm nhân tình. Sau khi thành đạt đạo qủa A La Hán, ngài Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn quan sát khắp, thấy mẹ mình bị đọa đày làm loài quỷ đói. Ngài là hàng đệ tử thần thông đệ nhất, tin rằng sẽ cứu được mẹ qua cơn đói khát đày đọa tấm thân. Ngài với hai tay cầm bát cơm vừa đưa ngang miệng, thì than ôi, cơm hóa thành than hồng, không thể ăn được! Tôn giả chính mắt chứng kiến cảnh tượng này, lòng đau khổ vô cùng. Tôn giả trở về xin Phật mở lương từ bi cứu độ mẹ Ngài. Phật dạy: "Mẹ ông đã nhiều kiếp gieo nhơn xan tham keo kiệt, nên nay phải chịu qủa báo làm loài quỷ đói. Một mình ông không thể cứu được. Phải nhân ngày Rằm tháng Bảy, tổ chức cúng dường Phật và chúng Tăng mười phương, nhờ vào uy lực và sức chú nguyện của Phật và chúng Tăng mười phương thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được". Sau đó, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật dạy, đến ngày Rằm tháng Bảy đem phẩm vật đến cúng dường chúng Tăng mười phương. Mẹ của Ngài nhờ uy đức phước lực của chúng Tăng và lòng chí thành chí kính của Ngài, sớm được thoát khỏi nỗi thống khổ của loài quỷ đói, siêu sinh về cõi lành.

Từ đó, ngày Lễ Vu Lan được tổ chức long trọng để hàng Phật tử câu hội về ngôi Tam bảo, cúng dường đức Phật và chúng Tăng, cầu cho cha mẹ còn sống được thân tâm an lạc, sau khi mạng chung được sanh về cõi lành.

Về phương diện giáo dục đạo đức của đạo Phật, một điểm đáng ghi nhận là giáo dục về hiếu đạo. Hiếu đạo là nền tảng đạo đức của đạo làm người cho ra người. Chúng ta có thể trang trải tình thương đến tất cả mọi loài mọi vật, nhưng điểm xuất phát làm nền tảng phải từ sự hiếu kính cha mẹ. Một người có thể thương đủ thứ người, tình thương đó trùm hết muôn loài vạn vật, nhưng nếu không thương kính cha mẹ thì tình thương đó e thành giả dối, vì không có gốc rễ, không được lập cước từ căn bản. Cho nên hiếu đạo xưa nay vẫn thường được đề cao trong phạm vi luân lý đạo đức. Nếu chưa thực hiện hiếu đạo ngay trong đời sống gia đình đối với cha và mẹ thì chưa thể xứng đáng là một con người. Người xưa có câu: "Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên". Ngay như người xuất gia học đạo, vẫn còn phải cưu mang bốn ân nặng là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân quốc gia và ân Tam bảo. Trong bốn ân thì ân cha mẹ vẫn còn là mối ân tình sâu đậm với mỗi người xuất gia tu Phật. Trong "Cư trần lạc đạo" của Trần Nhân Tông, viết:

Tụng kinh niệm Bụt
Chùa Thánh khẩn cầu
Tam hữu, Tứ ân
Ta nguyền được trả

Vì công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ quá là cao dày, nên Kinh Thi có câu: "Phụ hề sinh ngã, Mẫu hề cúc ngã, Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hiệu thiên vãng cực" (Cha sanh ra ta, Mẹ nuôi nấng ta, Thương cha mẹ lắm, vì sinh ta nhọc nhằn, đến khi muốn báo đáp ân sâu, thì than ôi, trời cao không cùng!).

Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ quá là lớn lao, như trời cao. Khi người con muốn đền đáp ân sâu thì lúc đó như trời cao vói không tới. Từ khi cưu mang đến mở mắt chào đời, trưởng thành và lớn khôn, cha mẹ phải chịu biết bao là khổ sở, nhọc nhằn. Thế mà khi sức sống đã truyền hết cho con thì cha mẹ hơi tàn sức tận, rồi trở thành "người thiên cổ". Ai có lớn lên từng nếm mùi cay đắng, thấm gót phong trần thì mới thấm thía cái ơn của cha mẹ mình. Một người biết đến điều ân nghĩa, chắc chắn không dám vội quên cái ơn của cha mẹ. Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, có hai hạng người, ta nói là không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Đó là mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt một trăm năm, cho đến khi cha mẹ trăm tuổi. Như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, mẹ cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn mẹ và cha ..." (Kinh Tăng Chi 1, 75).

Ca dao Việt Nam có câu:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con

Vậy người cha, nổi bật là đức nghiêm. Có nghiêm mới giáo dục con cái có đạo đức, có văn hóa, sau trở thành người đủ tài đủ đức, nên tính đức người cha sừng sững, vòi vọi như núi Thái Sơn. Còn tính đức của người mẹ thì muốn con có cuộc sống no ấm, đủ đầy. Người mẹ lại thường gần gũi, an ủy, vỗ về con cái hơn, nên tình nghĩa của người mẹ, nó đậm đà, da diết như suối nguồn bất tận.  Suối nguồn tình thương của người mẹ, nó dịu dàng, đầm ấm, âm thầm tuôn chảy không bao giờ dừng nghỉ. Nên trách nhiệm người con là phải "một lòng thờ mẹ kính cha ...".  

Phật dạy trong kinh Nhẫn Nhục: "Cùng tột điều thiện không gì hơn là hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn là bất hiếu". 

Một kẻ đã bất hiếu với cha mẹ là kẻ đã vong ân bội nghĩa, kẻ đã vong ân bội nghĩa thì không còn sự xấu ác nào ở trên thế gian mà họ không dám làm, kẻ ấy đã quyên cội nguồn. 

Có gì sung sướng bằng khi chúng ta còn cha còn mẹ. Mỗi khi mùa Vu Lan về, chúng ta được cài lên áo chiếc hoa hồng tươi thắm. Sự hiện hữu của cha mẹ trong gia đình khác nào sự hiện hữu của các thiên thần. Còn cha còn mẹ là còn Phật trong nhà, nên Phật dạy: "Cha mẹ tại đường như Phật tại thế". Muốn đạt được tâm Phật, không gì hơn giữ gìn tâm hiếu; muốn đạt được hạnh Phật, không gì hơn giữ gìn hạnh hiếu, nên Phật dạy: "Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật". Vì mải lo kính thờ Phật bên ngoài mà quên kính thờ Phật trong nhà, nên có câu: "Phật trong nhà không thờ, thờ Thích Ca ngoài đường". 

Phật dạy: "Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường".

"Phạm Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các đạo sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời" (Phật thuyết như vậy, Cat, 7-503). 

Ân sâu nghĩa nặng của cha mẹ có thể kết thành những vần thơ tuyệt tác nhất. Và tự nhiên, hạnh hiếu được coi là đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất trong mọi thời đại, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Dùng bút mực để diển tả trong ân của cha mẹ vẫn còn mãi với kiếp sống con người. Vậy thì, đã là một tử theo chánh đạo, chúng ta phải báo đáp ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thế nào mới xứng đáng? Muốn báo hiếu đầy đủ nhất phải gồm hai phần: vật chất và tinh thần.

1. Về đời sống vật chất thì phải lo hầu hạ, phụng dưỡng cha mẹ những nhu cầu cần thiết, để cha mẹ được thảnh thơi an dưỡng trong tuổi xế chiều.

2. Về đời sống tinh thần phải thường xuyên khích lệ trợ duyên cho cha mẹ học hiểu chánh pháp, biết tránh ác làm lành, giữ gìn ba nghiệp lành, tiến đến giải thoát an vui vĩnh viễn.  

Đức Phật dạy: "Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng, dâng cúng với của cải, vật chất, tiền bạc thì không bao giờ đủ để đáp đền ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỳ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin Tam bảo thì khuyến khích có lòng tin Tam bảo, đối với cha mẹ sống tà giới thì khuyến khích vào chánh giới, đối với cha mẹ gian tham thì khuyến khích bố thí, đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích vào chánh kiến. Cho đến như vậy, này các Tỳ kheo, là đền đáp xứng đáng cho mẹ và cha" (Tăng Chi 1, 75). 

Có một Thiền sư, tuy bản thân xuất gia, nhưng vẫn giữ tròn hiếu đạo cho đến khi cha mẹ khuất bóng:

Giang sơn còn nặng gánh tình
Trời chưa cho nghỉ thì mình cứ đi
Khi nào trời bảo thôi đi
Giang sơn cất gánh, ta thì nghỉ ngơi

Trong mùa Vu Lan năm nay, hàng Phật tử chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước Phật đài, thề nguyền sẽ noi gương hiếu hạnh của đức Mục Kiền Liên, làm tròn trách nhiệm một người con chí hiếu chí kính, biết nhớ ơn và đền ơn đối với hai đấng sinh thành, càng nghĩ đến tất cả chúng sanh trong pháp giới đều được thoát khổ, đến bờ an vui giải thát.  

TRƯỚC TIÊN HC L PH MU HIU NGHĨA

HU HC KINH PHT - Hoang THIÊN CHNG NHN

 

Phát nguyện và cầu nguyện

          Phát nguyện là đưa ra lời ước nguyện mong mỏi cho bản thân hay người khác thực hiện một hành động nào đó có tác dụng đem lại thành tựu hạnh phúc. Người phát nguyện giảm thọ cho cha mẹ sống lâu, nguyện chịu khổ để người khác được vui hay nguyện ăn chay để nuôi dưỡng lòng từ bi. Lời phát nguyện được xem như lời thực tập ban đầu, cam kết thực hiện công việc có tính chất cụ thể hay trừu tượng. Phát nguyện hiến máu nhân đạo để người thầy mau chóng lành bệnh, đây là công việc cụ thể, bản thân tác động được. Phát nguyện giảm thọ để thầy sống lâu, hoằng pháp thành công, đây là công việc trừu tượng, bản thân không tác động được. Người có tình thương thường xuyên phát nguyện, chịu trách nhiệm và thực hiện lời phát nguyện của mình. Thông thường lời phát nguyện đi kèm theo điều kiện, như phát nguyện tu tập đạt quả vị A La Hán trong kiếp hiện tại này, sẽ đi tu nếu gia đình cho phép hay hiến tặng tài sản để cha mẹ khỏe mạnh. Nhiều người phát nguyện thực tập Bố Thí Ba La Mật để có nhiều thuận duyên trong việc tu tập giải thoát trong kiếp hiện tại hay vị lai, nhưng phát nguyện thế nào cũng đều có điều kiện và công việc thực hiện lời phát nguyện. Lời phát nguyện có thể mang tính chánh tư duy hay tà tư duy. Chánh tư duy mang yếu tố thiện như làm việc thiện để mong đạt các kết quả thiện. Tà tư duy mang yếu tố bất thiện như làm việc bất thiện để mong đạt các kết quả bất thiện. Người thành tâm thành ý phát nguyện và thực hiện một cách nghiêm túc, lời phát nguyện sẽ hiệu lực có thể ngay lập tức hay kết quả mỹ mãn trong tương lai.

            Phát nguyện khác với lời thề vì phát nguyện mang tính hy sinh còn lời thề vẫn còn tính cố chấp. Phát nguyện trung thành với Tam Bảo, thực tập theo giáo pháp của đức Thế Tôn, đi theo tăng thân và đi trọn đường tu, thậm chí phát nguyện kiếp sống tiếp theo được gặp chánh pháp và tiếp tục tu học, là đệ tử, là con của Thế Tôn. Lời phát nguyện mạnh sẽ mang lại hiệu quả mạnh và tính hy sinh phải cao, thậm chí biết xả thân vì lời phát nguyện của mình. Thông thường, người phát nguyện và thực hiện nó trong khả năng. Nếu còn trong khả năng, mức độ cố gắng vẫn còn thấp. Lời phát nguyện cao hơn khả năng khoảng 20%, sự cố gắng giúp người đạt được thành tựu. Chính sự thành tựu này mang lại hạnh phúc chân thật, người thực tập buông bỏ rất mau và đi nhanh về con đường đã chọn. Người phụng sự cần có lời phát nguyện và người chứng giám là chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tăng, chư tổ, thậm chí là tổ tiên hay năng lượng trong sáng nơi bản thân. Việc phát nguyện với điều kiện không dành cho mình mà dành cho người khác, như nguyện tụng kinh Pháp Hoa liên tiếp 30 đêm để đứa con có nhiều thành tựu trong cuộc sống. Việc thành tâm khiến đứa con nhận được năng lượng thực tập từ người mẹ, nhưng bản thân người mẹ có được công đức nhiều hơn cả, đứa con chỉ nhận được một phần nào đó thôi. Bản thân đứa con biết thực tập, công đức lớn hơn rất nhiều. Phía trên đã nói, thế hệ càng sau cùng biết tu tập, cả thế hệ trước đó được hưởng công đức không biết bao nhiêu mà kể. Vấn đề là đừng đợi người khác tu dùm, người tự tu tự giải thoát, như vậy sẽ tốt hơn, không chỉ giúp cho bản thân mà còn giúp cho nhiều người. Muốn con đường đi thuận lợi và thành tựu, không gì khác hơn là đưa ra lời phát nguyện hướng về sự giải thoát và chấp nhận hy sinh cho đối tượng nào đó như cha mẹ, gia đình, bạn bè, người xung quanh và chúng sinh.

            Chấp nhận hy sinh để người khác được vui và hạnh phúc. Tính hy sinh rất đẹp, không phải ai cũng làm được vì theo lẽ thường người thích tom góp sự hưởng thụ nhiều hơn bung nó ra. Hành động hy sinh không chứng minh sự nhu nhược hay yếm thế mà là biểu hiện của tình thương, vì người mà làm. Chấp nhận chết để người khác được sống, chấp nhận đau cho người khác an lành, chấp nhận thiếu thốn cho người khác đầy đủ… và nhiều hình thức, nội dung chấp nhận khác. Một số cộng đồng không thể sống an lạc vì họ không chấp nhận sự khác biệt, đồng thời cái tôi đề cao quá mạnh, biến mình thành con thiêu thân của cái tôi, cái ngã. Ai cũng sợ khổ đau, nhưng nhiều khi nó lại cần thiết vì mình học được cách chấp nhận và sống chung với nó. Một bà mẹ không chấp nhận bạn gái của đứa con trai vì không thể chấp nhận công việc của cô này, cách cô này nói chuyện hay cách cô nấu nướng. Đơn giản vì bà sợ, bà không muốn ai chiếm mất con trai của bà, bà cảm tưởng cô lấy đi tình cảm của đứa con dành cho bà. Bà không dám hy sinh đứa con vì không thể chấp nhận những viễn cảnh do bà tưởng tượng ra. Người đời nói nhiều về đức hy sinh nhưng hy sinh cho cái gì thì không nói rõ, có chăng là những đối tượng hy sinh không đúng đắn. Hy sinh vì hạnh phúc lành mạnh của người khác, điều này đáng làm, còn hy sinh vì hạnh phúc ảo của bản thân và người khác, đây là thứ hy sinh dại dột. Ngày xưa, đức Phật không tịch diệt sớm vì ngài muốn chia sẻ với chúng sinh các pháp môn tu tập, những sự thật do chính ngài tự thực tập và chứng ngộ, để rồi sau đó ngài gặp không biết bao tai nạn như bị hãm hại, bị chửi bới, bị vu khống… Nếu không chấp nhận các tai nạn, ngài sẽ không đi tiếp con đường hoằng pháp của mình. Từ đau khổ sinh ra hạnh phúc và hy sinh không phải là rước hoạ vào thân mà là quá trình chế tác hạnh phúc.

            Phát nguyện cho mình, cho người và cho cả vong linh. Vong linh không đủ sức phát nguyện, mình giúp họ, để họ tu tập và nhanh chóng siêu thoát. Có người dẫm lên thành công của người khác để mang lại thành công cho mình, điều này hết sức nguy hiểm vì bản thân không bao giờ đủ sức mãi mãi làm như thế. Khi sức cùng lực kiệt, mình sẽ bị người khác dẫm lên tương tự, thậm chí nặng nề hơn. Phát nguyện cho mình, nguyện dứt ưu tư phiền não, sống đời thánh thiện và yêu thương muôn loài. Thành công của người là thành công của mình, tập tâm hoan hỷ với cái vui của người. Nguyện cho người hết khổ, nhiều niềm vui, phát triển trí tuệ và đi về nẻo lành. Mình không giữ các bí kíp thành công mà đem chia sẻ với người, cùng thực tập, cùng hạnh phúc. Phát nguyện cho vong linh, nguyện thay họ chịu khổ, quyết chí đi đến nơi đen tối nhất để giúp đỡ chúng sinh. Mình không muốn thành tựu cho riêng mình mà tất cả đều thành tựu, niềm vui rất to lớn. Vong linh chịu khổ nhiều, mình mong họ đừng khổ nữa vì họ sẽ chịu không nổi. Mình chịu nổi, mình hy sinh chịu thay cho họ nhưng trong tâm không mảy may thấy mình hy sinh. Năng lượng phát nguyện giúp mình vượt thoát khó khăn, nghị lực hơn, tinh thần vững hơn và điều khó khăn cách mấy cũng vượt qua được. Điều quan trọng là phát nguyện liên tục, đừng dừng lại, đừng tự thoả mãn với vài thành tựu mỏng manh. Tính tự mãn giết chết người tu, thậm chí làm giảm hiệu lực và có khi gây ra phản tác dụng. Phát nguyện có thể xem là mục tiêu hay thử thách, thực hiện được là mục tiêu đạt được và thử thách vượt qua. Người tu không đi vào con đường ép xác, ép tâm hay theo kiểu khổ hạnh, nhưng lời phát nguyện giúp mình có cơ sở, có con đường để đi. Mình đừng than vãn vì sao phát nguỵên hy sinh nhiều mà thành tựu hay hưởng lợi không bao nhiêu. Đừng mong cầu như thế, hãy kiên nhẫn, làm việc một cách vô tư, việc gì tới cũng sẽ tới, không mong cũng tự nhiên tới. Đức Phật ngày xưa đâu biết mình đắc đạo trong khi ngồi thiền dưới cội cây. Mọi sự thật tự nhiên đến và ngài đón nhận cũng tự nhiên như thế. 

            Cầu nguyện là sự mong cầu điều gì đó được thực hiện mang lại kết quả như ước muốn. Người có phước đức lớn mong cầu gì cũng được. Việc cầu nguyện cho điều thiện, phước người đó lớn hơn và cầu nguyện cho điều không thiện, phước giảm nhanh, hoặc mất hết rồi chịu khổ địa ngục. Cầu nguyện thường không đòi hỏi thực hiện công việc như phát nguyện nhưng phước đức được sử dụng bù đắp cho việc hưởng lợi. Trong buổi cầu nguyện, người cần nhất tâm, hướng tâm đến đối tượng muốn cầu nguyện cho. Muốn cầu nguyện cho ông bà thì hướng tâm đến ông bà mà nguyện. Kinh Rải Tâm Từ là một bài cầu nguyện hay, Kinh Từ Bi cũng vậy. Điều quan trọng là cầu nguyện với tâm thành khẩn và tràn trề yêu thương, nhất là hết sức thảnh thơi và vui vẻ. Tâm đang đau khổ cầu nguyện khó thành, nên phát nguyện thì hay hơn. Thực tập cầu nguyện lúc thảnh thơi, thoải mái, có hạnh phúc, năng lượng cầu nguyện sẽ lớn. Người đời thường không tin lắm vào hiệu lực cầu nguyện, và các cư sĩ không biết cách cầu nguyện nên không thành tựu. Yếu tố nhân quả phải được xét đến đây. Cầu nguyện nhiều không đạt vì phước đức kém cỏi, chưa làm gì đòi hưởng quả nên cầu mãi cũng không thành. Người trồng lúa sẽ thu hoạch lúa, khô

 
Về phong thủy
 

Phong thủy

(fungshui) là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống họa phúc của con người.
Về mặt từ nguyên thì

phong thủy

: phong có nghĩa là "gió", là hiện tượng không khí chuyển động và thủy có nghĩa là "nước", là dòng nước, tượng trưng cho địa thế. Hai chữ phong thủy còn chỉ phương pháp tìm kiếm và chọn lựa nơi trú ngụ hoặc mai táng cát tường phú quý, phúc thọ bình yên, tức là thuật Phong thủy. Giống như mọi ngành khoa học kỹ thuật cổ truyền khác ở Á Đông, thuật phong thủy cũng dựa vào dịch lí, thuyết âm dương và ngũ hành.