HOTLINE : 0902.910.699 - ZALO & 0908.000.343

 
 

                Nếu có một tôn giáo nào thích nghi với những nhu cầu của khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo. Phật Giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học.

                Phật Giáo không cần từ bỏ những quan điểm... của mình để chấp nhận khoa học, bởi vì Phật Giáo bao gồm khoa học, đồng thời cũng vượt qua khoa học.

              Phật Giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá ra những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống chung quanh.

Phật Giáo siêu việt thời gian và mãi mãi có giá trị.        (Lời của Albert Einstein - được xem là nhà khoa học vĩ đại nhất trong thế kỷ 20)

'''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''

TÂM LÀ GÌ

Tâm là gì?, xưa nay chúng ta thường nói rằng, tôi không cần tu chi cả tôi chỉ cần tu tâm là đúng là đủ rồi, câu nói này nghe qua là đúng như thật nhưng trên thực tế có mấy ai làm được như ý nghĩa chân thật của nó, nếu hiểu thì chúng ta đã làm Phật hết rồi không còn có mặt ở trên trái đất này, thật ra chữ tu chúng ta còn chưa hiểu thông thì làm sao hiểu được ý nghĩa của hai từ đúng và đủ, làm sao hiểu được tâm là gì, tâm ở đâu mà vội bảo rằng tôi không cần tu chi cả, tôi chỉ cần tu tâm là đúng là đủ rồi, chúng ta xưa nay tưởng tâm của mình là trái tim, là khối óc nên thường nói rằng tôi không làm gì trái đạo đức, không trộm cướp, không hại vật giết người là tôi đã tu tâm rồi, nhưng trên thực tế có mấy ai hiểu được ý nghĩa chân thật của lương tâm và đạo đức, hiểu được hai mặt thiện – ác đúng sai, nếu chúng ta thực sự hiểu được ý nghĩa của tu tâm là gì thì sẽ thốt lên những lời nói chân thật rằng: Tôi phải cố gắng tu hành để sửa đổi hành vi và lời nói tội lỗi của tôi mỗi giây mỗi phút, tuy chúng ta chưa hiểu tâm là gì, tâm ở đâu nhưng ít ra đã biết nhìn vào mình, khi biết nhìn vào mình thì những bước kế tiếp cảm nhận được mình, tìm hiểu mình, thấy được mình và làm chính mình, sẽ không còn bao xa, không còn bao xa nghĩa là sự tu tâm của chúng ta mới đi đến đúng và đủ;

1.Nhìn vào mình, nghĩa là nhìn lỗi mình, không nhìn lỗi người.

2.Cảm nhận được mình, nghĩa là cảm nhận được tội lỗi của mình đã tạo ra từ vô lượng kiếp, giờ phải lo sám hối tu hành để sửa đổi thân tâm của mình mỗi giây mỗi phút.

3.Tìm hiểu mình, nghĩa là tìm hiểu mình là ai, mình từ đâu đến, khi chết mình sẽ đi về đâu và những sự đau khổ luân hồi này từ đâu mà có và làm sao thoát khỏi luân hồi.

4.Thấy được mình, nghĩa là thấy được mọi nguồn gốc đau khổ từ vô lượng kiếp đến nay đều do mình tự tạo ra rồi do mình tự gánh chịu không liên quan gì đến ai.

5.Làm chính mình, nghĩa là biết Phật là mình, mình là Phật rồi buông xả dục vọng đoạn sạch vô minh để trở về làm Phật, khi làm Phật rồi thì sự tu tâm của ta mới được hoàn thành viên mãn.

       Giờ chúng ta cùng tìm hiểu chân tâm của ta, khi hiểu được chân tâm rõ ràng thì ta mới biết tu tâm từ đâu và sửa tâm chỗ nào, còn nếu chưa hiểu tâm là gì, tâm ở đâu thì sự tu hành của ta sẽ không đi đến đâu, uổng phí cả đời. Phật nói tâm Phật và tâm của chúng sanh vỗn đồng một thể không hai, tức là nói tâm Phật và tâm của chúng sinh bằng nhau, không cao không thấp, không nhỏ không lớn. Tóm lại tâm Phật và tâm của chúng ta là một không hai, không khác biệt, tôi biết quý bạn sẽ hỏi nếu tâm Phật và tâm của chúng ta là một không hai vậy tại sao quý Ngài thì làm Phật còn chúng ta làm chúng sinh, Kính thưa; Chư Phật và chúng ta chỉ khác nhau có một niệm Mê – Giác mà thôi, nghĩa là chư Phật thì đã giác ngộ còn chúng ta vẫn còn si mê vì vậy cảnh giới, hình tướng của chư Phật và cảnh giới, hình tướng của chúng ta mới khác xa như vậy, nhưng dù cảnh giới hình tướng của chư Phật và cảnh giới hình tướng của chúng ta có khác xa thế nào đi nữa thì tâm của chư Phật và tâm của chúng ta cũng không hề có một chút mảy may khác biệt, nếu bàn đến chân tướng của chân tâm thì phàm tình của chúng ta không thể dùng cái trí nông cạn hay ngôn ngữ hạn hẹp của thế gian mà có thể bàn luận được, tại sao?, vì thể tánh chân tâm của chúng ta không có hình tướng, tuy nhiên chúng ta cũng có thể tìm hiểu được tâm một phần nào qua những sự việc do tâm biến hiện ra, chỉ cần hiểu được sự biến hóa của tâm thì sẽ thể hội được thể tánh của chân tâm, giờ chúng ta tạm tìm hiểu về thể tánh của vàng, nước và vũ trụ; chỉ cần hiểu được thể tánh của chúng thì sẽ phần nào hiểu được thể tánh chân tâm của ta:

1.Vàng: Vàng là thể tánh rắn chắc và chiếu sáng nên chúng ta thường dùng vàng để làm ra các thứ nữ trang hay các vật như là nhẫn, dây chuyền, vòng xuyến, tượng Phật, chữ, tranh, thau chậu, bình,vv. Tóm lại chúng ta có thể tạo ra từ vàng hàng trăm ngàn hình tướng vật dụng khác nhau, nhưng dù chúng ta có dùng vàng tạo ra nhiều hình tướng khác nhau thế nào thì thể tánh của vàng vẫn không hề bị thay đổi.

2.Nước: Nước là thể tánh ướt, thanh tịnh và tươi mát nên đâu đâu cũng có nước, nếu không có nước thì vạn vật hữu tình và vô tình ở trong vũ trụ này sẽ không có sự sống tồn tại, nước có nhiều hình tướng khác nhau như là nước ra biển thì thành biển, ra sông thì thành sông, ra hồ thì thành hồ, lên hư không thì thành mây, mây rơi xuống thì thành mưa,vv. Tóm lại hình tướng của nước không thể dùng con số thiên văn tính được, nhưng dù nước bị duyên khống chế, biến hóa thế nào thì thể tánh của nước vẫn không hề bị thay đổi.

3.Vũ trụ: Là thể tánh bao la rộng lớn không cùng tận như như bất động nhưng vũ trụ có thể biến hóa ra vô lượng thế giới lớn nhỏ, thanh tịnh, ô uế, hạnh phúc, đau khổ khác nhau và luôn có sự thành tựu, hoại diệt xoay vần biến hóa đời đời kiếp kiếp không cùng tận, nhưng dù những hình tướng, thành tựu, hoại diệt, vĩnh cửu đó có thiên biến vạn hóa thế nào thì thể tánh của vũ trụ vẫn không hề bị thay đổi.

       Qua ba thể tánh ở trên chúng ta thấy thể tánh của vũ trụ là lớn không cùng tận dù chúng ta có muốn nghĩ muốn bàn cùng không được nhưng có một điều mà chúng ta không thể ngờ được đó là tâm của chúng ta to lớn bao trùm cả vũ trụ và tất cả vạn vật muôn loài ở trong vũ trụ này đều do tâm của chúng ta tạo ra. Tóm lại tất cả những gì dù là lớn như vũ trụ, nhỏ như hạt bụi, trang nghiêm như cõi Phật hay là u minh như địa ngục đều là do tâm của chư Phật và tâm của chúng sinh tạo ra, chỉ có khác ở chỗ là tâm của chư Phật thì tạo ra mười phương cõi Phật thanh tịnh còn tâm của chúng sinh thì tạo ra mười phương thế giới chúng sinh luân hồi sinh tử, nhưng dù tâm chúng ta có tạo ra sáu ngả luân hồi đau khổ u tối thế nào thì thể tánh chân tâm của chúng ta cũng không hề bị thay đổi.

       Qua sự phân tích ở trên chúng ta đã hiểu được phần nào thể tánh của chân tâm rồi, giờ chúng ta tìm hiểu đến vô minh đang che lấp tâm ta bằng cách nào, chỉ cần hiểu rõ thì ta sẽ can đảm buông xả: Tham, sân, si để trở về chân tâm Phật tánh của mình. Giờ chúng ta tìm hiểu vô mình của vàng, nước và vũ trụ từ đâu mà có thì sẽ hiểu được vô minh của ta từ đâu mà có (vô tức là không, minh tức là sáng, nói chung lại là tối tăm không có sáng suốt).

1.Bản thể của vàng: Bản thể của vàng là chói sáng nhưng vàng bị người đời đem đi tạo thành nhiều hình tướng sang hèn, xấu, đẹp, cao thấp khác nhau. Nếu có người dùng một khối vàng để đúc thành tượng Phật thì tượng Phật đó sẽ được người ta đặt ở nơi trang nghiêm để thờ cũng và lễ lạy, nhưng cũng là khối vàng đó có người đem đi làm thành thau chậu để tắm rửa thì nó sẽ bị người đặt ở những nơi dơ bẩn tanh hôi, cùng là một thể vàng làm ra nhưng tại sao nó lại có sự phân biệt sang hèn khác xa như vậy, là vì hình tướng của nó khác nhau. Ai, ai đã làm cho hình tướng của nó khác nhau, là vì vàng bị người đời điều khiển, xếp đặt nên nó không có quyền tự chủ đành theo duyên biến hóa mà thôi.

2.Bản thể của nước: Bản thể của nước là trong mát thanh tịnh, nhưng nước bị duyên khởi của đất, nước, gió, lửa và vạn vật muôn loài hữu tình và vô tình khống chế biến nó ra thành nhiều hình tướng trong sạch, ô uế, ngọt mặn, thơm thối khác nhau, cùng là một thể nước nhưng tại sao nó lại sinh ra nhiều hình tướng sang hèn, dơ sạch, thối thơm khác xa như vậy, là vì nước bị duyên khống chế điều khiển nên nó không có quyền tự chủ đành theo duyên biến hóa mà thôi.

3.Bản thể của vũ trụ là thanh tịnh trong xanh như như bất động, nhưng tại sao vũ trụ biến hóa ra vô lượng thế giới hạnh phúc, an lạc, đau khổ, đọa đày khác nhau như vậy và vũ trụ bị tâm thức của loài hữu tình điều khiển, khống chế và bị định luật: Thành trụ hoại diệt xoay vần của vạn pháp nên nó không có quyền tự chủ đành theo duyên biến hóa mà thôi.

       Nếu vàng có quyền tự chủ thì vàng chỉ muốn tạo ra tượng Phật cho người đời chiêm ngưỡng lễ bái, nó không muốn làm thau chậu dơ bẩn tanh hôi. Nước chỉ muốn là băng tuyết tinh khôi, sương mai tinh khiết, suối mát, mưa rơi, thấm nhuần tình thương đi khắp mọi nơi nuôi sống mọi loài, nước sẽ không muốn là chất độc, ứ đọng khắp nơi giết hại chúng sinh muôn loài. Vũ trụ chỉ muốn tạo ra mười phương cõi Phật thanh tịnh, không muốn tạo ra lục đạo luân hồi đau khổ.

       Qua ba sự việc biến hóa ở trên cho thấy, vàng, nước và vũ trụ đều bị duyên khống chế nên không có quyền tự chủ chỉ đành theo duyên biến hóa không ngừng. Giờ chúng ta đã hiểu được vô mình của vàng, nước và vũ trụ rồi, vậy chúng ta đang bị ai khống chế và cái gì là vô mình đang che lấp chúng ta đây? Không ai xa lạ, chính là thần thức của ta đang khống chế chân tâm của ta, (thần thức mà người đời thường gọi là thần hồn, hay linh hồn), còn vọng tưởng tham, sân, si của thân giả tạm này chính là vô minh đang che lấp đi thần thức khiến cho thần thức của ta không biết quay về nhập thể với chân tâm vì vậy thân giả tạm này chính là kẻ thù lớn nhất của ta, tại sao? Vì nó đã tạo ra sáu thứ độc để mê hoặc khiến cho thần thức của ta say đắm không biết quay về, sáu thứ độc mê hoặc đó là: Tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến. Giờ chúng ta tìm hiểu sáu thứ độc này để xem chúng lợi hại thế nào mà có thể mê hoặc được thần thức của ta:

1.Tham: Là tham vọng đủ thứ không tận cùng, không đáy.

2.Sân: Là thù hận, hãm hại, đố kỵ, hơn thua không cùng tận không chấm dứt.

3.Si: Là ngu si điên đảo không biết phân biệt tốt, xấu, chánh tà.

4.Mạn: Là coi cái ta còn lớn hơn trời không ai sánh bằng, thậm chí chư Phật, Thánh hiền chúng ta cũng không để vào mắt.

5.Nghi: Là tâm địa đầy xấu xa nghi ngờ đến nỗi lời nói của chư Phật, chư Thánh chúng ta cũng không tin, không để vào tai, ngược lại còn đi phỉ báng.

6.Ác kiến: Là tà chi tà kiến (tức là nghĩ sai, thấy sai) vì nghĩ sai, thấy sai nên chúng ta hay vạch lá tìm sâu, soi mói chuyện người rồi đặt lên những chuyện lạ thường để hãm hại lẫn nhau.

       Tất cả chúng ta trong tâm không nhiều thì ít đều có chứa sáu thứ độc này nên chúng ta mới cùng có mặt ở cõi Ta Bà này, không những vậy mà trong tâm chúng ta còn tích lũy chúng trong tâm thành băng, thành khối, điều đáng thương là chúng ta đã chất chứa chúng đầy cả hư không rồi mà không hề hay biết, ngược lại còn cứ tưởng là mình trong sạch, thanh cao và có trí tuệ lắm, đôi khi gặp được thiện tri thức khuyên nhủ tu hành, chúng ta không biết cảm ơn, ngược lại còn nổi sân chửi mắng cho rằng người đó đang nghĩ mình ở ác nên mới khuyên bảo mình tu hành, không những vậy chúng ta còn trả lời lại với họ rằng: Ai ở ác thì người đó mới cần tu còn tôi không có ở ác thì tôi không cần tu hành chi cả, chúng ta trả lời như vậy không lẽ chư Phật, chư Bồ Tát, Thánh, Tăng, Ni và Phật tử là những người ở ác hết sao?. Chúng ta thật là si mê điên đảo thật là đến hết thuốc chữa (những kẻ không thấy mình có tội chính là những kẻ có tội nhiều nhất ở trên thế gian này - Xin đừng vội nóng giận, chỉ cần đọc hết những trang viết này thì sẽ hiểu chúng ta có tội nhiều hay ít).

       Chúng ta tìm hiểu về tâm giả mà chúng ta đang sống với nó, chỉ cần hiểu được tâm thật và tâm giả khác nhau ở chỗ nào thì chúng ta sẽ có đủ trí tuệ và can đảm để buông xả tâm giả để quay về tâm thật của ta, tâm giả tức là tâm vọng từ thân ta sinh ra mà có, thân ta gồm có sau phần quan trọng gọi là lục căn, lục căn tức là sáu phần: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, hàng ngày chúng ta dùng sáu căn này để tiếp xúc với sáu cảnh rồi sinh ra tham đắm với sáu trần, sáu trần tức là sáu thứ mà người đời ai ai cũng ưa thích đó là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc là nói chung hết sắc đẹp của thế gian, thanh là nói chung hết âm thanh hay, dở. Hương là nói chung hết hương thơm, hôi thối.Vị là nói chung hết vị ngọt, đắng cay. Xúc là nói chung hết hành động khoái lạc, tiếp xúc của thân. Pháp là nói chung hết vạn vật hữu tình và vô tình. Hằng ngày chúng ta thường dùng sáu căn này để tiếp xúc với sáu trần, nghĩa là mắt của ta thì thấy sắc, tai của ta thì nghe âm thanh, mũi thì ngửi hương thơm, lưỡi thì nếm vị ngọt đắng, thân thì tiếp xúc khoái lạc mềm cứng, ý thì mê thưởng tham vọng đủ thứ. Tóm gọn cho dễ hiểu là sáu căn là thân của mình, còn sáu trần là tất cả vạn vật hữu tình và vô tình ở trên thế gian này mà người đời ai ai cũng tham đắm ưa thích và hưởng thụ, chúng ta ai cũng thích nhìn cái đẹp, thích nghe âm thanh hay, thích ngửi mùi hương lạ, thích nếm vị ngọt ngon, thích khoái lạc hưởng thụ, thích mọi chuyện vừa ý nên chúng ta mới bị khổ, nếu chúng ta biết dùng chân tâm, trí tuệ để nhìn sự việc thì chúng ta đâu có khổ mà đã làm Phật lâu rồi.

Chân tâm và giả tâm khác nhau ở chỗ nào: Chân tâm thì không còn có tham, sân, si, chấp chước - còn giả tâm thì còn tham, sân, si, chấp chước, cũng như người giác ngộ dùng chân tâm để nhìn dây truyền, nhẫn, vòng, bông tai là một không hai vì tất cả đều làm từ vàng mà ra nên không còn phân biệt chấp chước, còn người si mê dùng giả tâm để nhìn thì thấy nhẫn là nhẫn, vòng là vòng, nếu có ai nói rằng vòng và nhẫn giống nhau không khác thì người si mê kia sẽ tranh luận hơn thua đến cùng, thậm chí còn đánh nhau đến vỡ đầu mới thôi, vì vậy người giác ngộ và người chưa giác ngộ có cái nhìn khác nhau là ở chỗ này.

Ở trên chúng ta mới bàn đến một chút phân biệt chấp chước của con mắt thôi mà đã sinh ra gây gổ đánh lộn, nếu cộng thêm năm cái chấp chước của tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì sự chấp chước của chúng ta còn tệ hại đến dường nào, vì vậy trong thế giới Ta Bà này luôn luôn có tai họa, đầy dẫy chiến tranh giết hại lẫn nhau không dứt, chỉ vì cái tâm si mê chấp chước điên đảo của chúng ta tạo ra.

Giờ chúng ta đã hiểu được thân giả tạm này là nguồn gốc đã tạo ra cái vòng vô minh để mê hoặc thần thức của chúng ta, ta phải giúp thần thức phá vô minh để trở về chân tâm, muốn phá được vô minh thì trước hết chúng ta phải tìm hiểu về quyền lực của thần thức và năng lực nhiệm màu của chân tâm, tâm là thể tánh có năng lực thiên biến vạn hóa còn thần thức là chủ thể có khả năng điều khiển bất khả tư nghì, chân tâm và thần thức tuy hai mà một, tuy một mà hai, tâm không thể rời thần thức, thần thức cũng không thể rời tâm, tại sao?. Vì thể tánh không có chủ thể thì sẽ không phát huy được diệu tánh, còn chủ thể không có thể tánh thì sẽ không phát huy được quyền năng tối thượng, vì vậy gọi chung là tâm thức, tâm của ta không đến không đi không lấy cũng không bỏ, luôn luôn hiện diện ở khắp mọi nơi, còn đến hay đi, lấy, hay bỏ, thay hình đổi dạng đều là do thần thức của ta thay đổi khống chế, nếu thần thức đi làm súc sinh thì tâm chúng ta sẽ biến cho thần thức có thân súc sinh, nếu thần thức đi làm người thì tâm chúng ta sẽ biến cho thần thức có thân người, nếu thần thức đi làm Phật thì tâm chúng ta sẽ biến cho thần thức có thân Phật. Tóm lại mọi sự biến hóa của tâm đều do thần thức khống chế, tâm không có quyền tự chủ chỉ đành theo thần thức mà biến hóa không ngừng, nhưng dù thần thức của ta có điều khiển tâm ta biến hóa thế nào thì những sự biến hóa đó cũng không thể thay đổi được thể tánh chân tâm của ta, vì vậy mà trong kinh Phật nói: Tâm chiếu mà thường tịch, tịch mà thường chiếu, nghĩa là tâm thường sinh ra vạn Pháp nhưng tâm lúc nào cũng như như bất động, cũng như mặt gương luôn luôn tỏa ra ánh sáng phản chiếu mọi hình tướng không phân biệt, vật gì đến thì nó hiện vật gì đi thì nó mất, tùy duyên mà chiếu, tùy duyên mà lặn, như thể gương lúc nào cũng như như bất động, qua sự phân tích ở trên chúng ta đã hiểu được phần nào tâm Phật, tâm giả và vô minh của chúng ta rồi.

       Giờ chúng ta cùng nhau giúp thần thức phá vô minh để trở về chân tâm diệu tánh của chúng ta, chúng ta thật là may mắn, phúc đức, thiện căn nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp nên kiếp này gặp được Phật Pháp diệu thiện của Như Lai, Phật nói tâm của Phật và tâm của chúng sinh vốn đồng một thể không hai, Phật còn nói: Ta cũng là một chúng sinh trong quá khứ, giờ ta đã thành Phật còn tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành, tại sao Phật lại quả quyết như vậy? Là vì Phật thấy tất cả chúng sinh đều có chủng tử Phật tánh A Di Đà giống như chư Phật không khác, khi chúng ta niệm A Di Đà Phật là niệm tự tánh A Di Đà của mình, đồng thời cũng thâu nhiếp thần lực của mười phương chư Phật và chư Bồ tát vì vậy ví như pháp môn tịnh độ được gọi là pháp môn có nhị lực (nhị tức là hai, lực tức là thần lực, nghĩa là dùng thần lực của mình để thâu nhiếp thần lực của mười phương chư Phật), Phật nói nhị lực để cho chúng ta dễ hiểu, dễ phân biệt, trên thực tế pháp môn tịnh độ chỉ có một đại lực dung thông mà thôi, tại sao? Vì tâm Phật và tâm của chúng ta là đồng một thể không hai, nếu không hai thì làm gì có nhị lực, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không có thần lực của chư Phật gia trì, dĩ nhiên là có vì mỗi một niệm A Di Đà của ta đang tu niệm hằng ngày đều là trực chỉ dung thông với diệu tâm của mười phương chư Phật, lực lực dung thông, lực lực tương đồng hỗ trợ lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau nghĩa là chúng ta dùng thần lực từ chân tâm của mình để nương nhờ vào thần lực của chư Phật, tại sao chúng ta phải cần nương nhờ vào thần lực của chư Phật?, là vì cái màng vô minh của chúng ta đã tạo ra quá sâu dày mà thần thức của ta thì mới được thức tỉnh đây thôi nên chưa có đủ thần lực, trí tuệ để phá vô minh, vì vậy chúng ta phải nương nhờ vào thần lực, trí tuệ của chư Phật hỗ trợ.

       Khi thành Phật chúng ta sẽ có đầy đủ kim thân, trí tuệ và thần thông giống y như Phật không khác, nhưng kim thân trí tuệ của ta có được đó không phải là chư Phật ban cho chúng ta mà tất cả do tâm thức của chúng ta tự thành tựu, nếu nói trên sự thì chư Phật giúp cho ta có kim thân Phật vì nếu không có chư Phật khai thị dẫn lối trợ lực thì ta vẫn còn trôi lăn đau khổ trong sáu nẻo luân hồi không có cơ hội làm Phật, còn nói trên lý thì thân kim Phật là do tâm thức của chúng ta hợp nhất thành tựu, cũng như hiện tại thân người của ta đang có, nếu nói trên sự thì nhờ tinh cha huyết mẹ cấu tạo mới thành nhưng trên lý thì thân người là do tâm thức và nghiệp lực của ta chiêu cảm mà có, nếu từ nơi tâm thức và nghiệp lực chiêu cảm mà có thì cha mẹ của ta làm sao có quyền năng để tạo ra tướng người cho ta, cha mẹ của ta chỉ là người trợ duyên, nuôi dưỡng giúp cho ta có đủ hình hài mà thôi, khi chúng ta thành Phật cũng như vậy đó, thân kim Phật là do tâm thức hợp nhất của ta biến hóa thành còn chư Phật chỉ là đại cha mẹ giúp cho ta thành tựu được kim thân Phật mà thôi, tại sao chư Phật là đại cha mẹ còn cha mẹ sinh ra ta là tiểu cha mẹ?, là vì cha mẹ chỉ giúp thành tựu cho ta được thân giả tạm, còn chư Phật giúp cho ta có thân kim Phật, thân giả thì chỉ được tồn tại trong một đời, còn thân kim Phật thì được trường thọ vĩnh cửu, vì vậy ân đức của chư Phật chúng ta không thể nào báo đáp chỉ biết khắc cốt ghi tâm.

       Thân Phật và thân người đều do tâm thức biến hóa thành, thì tại sao thân người thì bị đau, yếu, già, chết, còn thân Phật thì được trường thọ vĩnh cửu, vậy sự khác biệt đó là ở chỗ nào?, thân Phật và thân người của ta chỉ khác nhau ở một niệm mê giác của thần thức mà thôi, nghĩa là thân người mà ta đang có là vì trước đó thần thức của ta si mê chạy theo tâm giả (tức chạy theo vọng tưởng) nên chân tâm phải duyên theo thần thức mà tạo cho ta có thân giả, còn khi thân Phật của chúng ta được thành tựu là nhờ thần thức của ta biết quay về nhập thành một thể với diệu tâm nên thân Phật của ta mới có đầy đủ trí tuệ, thần thông biến hóa nhiệm màu, còn thân giả mà chúng ta đang có là do duyên của tứ đại tạo thành nên ta không có thần thông trí tuệ chi cả mà chỉ có si mê điên đảo mà thôi.

Bốn thứ tứ đại đó là: Đất, nước, gió, lửa. Thịt, tim, gan, phổi, xương của ta là do đất cấu tạo thành, huyết quản là do nước cấu tạo thành, hơi thở là do gió cấu tạo thành, nhiệt độ ấm trong người là do lửa cấu tạo thành, nếu bốn thứ này trong người chúng ta không được quân bình thì sinh ra bệnh, nghĩa là nếu nước trong người của ta bị thiếu thì sinh ra nóng sốt, nếu lửa trong người bị thiếu thì sinh ra lạnh cúm, khi tứ đại còn thì ta sống, khi tứ đại bỏ đi thì ta chết, vì vậy người chết trước hết là bị tắc thở (tức gió đã bỏ đi), rồi đến huyết quản ngưng lại (tức nước đã bỏ đi), rồi đến nhiệt độ ấm mất đi (tức lửa đã bỏ đi), cuối cùng chỉ còn lại thân xác cứng lạnh là đất, đất là còn lại cuối cùng vì nó phải cần có thời gian tan giã để trở về với cát bụi, còn nếu thân đất này được thiêu đốt thì nó sẽ nhanh chóng trở thành cát bụi, thân cát bụi trở về với cát bụi, vạn vật vô tình và hữu tình ở trên thế gian này cũng vậy, cuối cùng cũng trở về với cát bụi.

Chúng ta cùng nhau tìm hiểu về thần thông, thật ra tất cả chúng ta hàng ngày đều đang dùng một phần thần thông của mình mà không hay biết, trong mỗi chúng ta ai ai cũng có những chuyện quá khứ vui buồn lẫn lộn, ai ai cũng có những lần đi xa, rời tỉnh này đến tỉnh kia hay rời nước này đến nước kia để sinh sống hay du lịch, ví như chúng ta rời Vietnam đi sang nước ngoài để sinh sống, tuy sinh sống ở nước ngoài nhưng những kỷ niệm vui buồn ở Vietnam hay những nơi ta đã đi qua đều vẫn còn tồn tại ở trong tâm thức, chỉ cần nghĩ đến thì chỉ trong tích tắc thì mọi chuyện như nơi chốn, cảnh vật, cảm xúc vui buồn đều hiện về trước mắt, thậm chí có những chuyện đã trải qua mấy mươi năm mà ta tưởng chừng như hiện tại, tại sao chúng ta có được cái khả năng thần diệu đó?, là vì tâm của ta đang hiện diện ở khắp mọi nơi, nếu tâm của ta không hiện diện ở khắp mọi nơi thì cảm xúc vui buồn đau khổ đó đều không thê có được, những cảm xúc mà chúng ta có được mỗi khi nhớ đến chuyện quá khứ, hiện tại hay là tương lai đều là nhờ tâm của ta đang hiện diện ở đó, nhờ tâm hiện diện ở đó mà ta mới sống lại được với những cảm xúc rung động vui buồn, chẳng qua chúng ta không có tu nên không thấy được chân tướng đó thôi.

Trong kinh Phật nói: Cõi Cực Lạc cách xa cõi Ta Bà của chúng ta là mười vạn ức Phật độ, nếu chúng ta dùng con số thiên văn để mà tính khoảng cách xa của nó thì không có cách chi tính đếm được, điều này cho thấy cõi Cực Lạc cách cõi Ta bà của ta xa biết dường nào, vậy mà Phật lại nói rằng chúng sinh chỉ cần khởi lên một niệm thì sẽ đến được cõi Cực Lạc ngay, nghe qua thật là khó tin, nhưng đây là vạn lần chân thật, vì Phật không bao giờ nói lời giả dối, giờ chúng ta thử khởi lên một niệm là về Vietnam để thăm gia đình thì ngay tức khắc ta đã có cảm giác đang ở Vietnam rồi, có phải vậy không?, thậm chí thần thức của ta về tới Vietnam còn nhanh hơn cái khẩy móng tay – Khi chúng ta vãng sanh cũng như vậy đó, chỉ trong một niệm thì thần thức của ta đã đến cõi Cực Lạc rồi, tại sao thần thức của ta có được cái mãnh lực thần thông đó, là vì tâm của ta đã hiện diện ở cõi Cực Lạc lâu rồi, chẳng qua thần thức của ta vẫn còn si mê điên đảo tham đắm dục trần không chịu buông xả để bay về Tây phương Cực Lạc đó thôi, khi nào thần thức của ta được giác ngộ tu hành niệm Phật thì lúc đó ta muốn bay về cõi Phật lúc nào cũng được, tức là nói hiện tại tuy thân của ta thì vẫn ở đây nhưng tâm thức của ta thì đã ở cõi Cực Lạc rồi, đợi đến khi nghiệp báo của thân này trả xong thì lúc đó ta sẽ tự tại bay thẳng về Tây phương Cực Lạc gặp Phật A Di Đà để thành tựu Phật thân, còn bây giờ chúng ta có muốn bỏ cái thân giả tạm này để bay về Tây phương Cực Lạc cũng không được vì nghiệp tội của ta còn quá nhiều, nên phải ở đây tu hành để trả nghiệp, khi nào trả nghiệp xong rồi thì lúc đó chúng ta mới được Phật đến đón rước đưa về Cực Lạc (trả nghiệp tội ở đây là trả nghiệp tội của báo thân này, không phải là trả nghiệp tội của chúng ta tạo từ xưa đến nay – gọi là đới nghiệp vãng sanh) ./.

Nam Mô A Di Đà Phật – PL: 2557, DL: 2013

HÃY BẮT ĐẦU TỪ 5 PHÚT

                  Thông thường cứ mỗi 5 phút rảnh rỗi trong đầu chúng ta diễn ra khoảng trên dưới 10 "câu chuyện" không đầu không cuối, Tại sao vậy ?,tại sao chúng ta quá lãng phí sự hiện hữu, cơ hội vô cùng hiếm hoi là đang được làm người có đủ năng lực, ý thức và có một việc vô cùng cấp bách, hết sức cấp bách đó là niệm Phật, học Phật, thành Phật để cứu độ chúng sinh đang mê lầm, tạo tác chồng chất nghiệp chướng và đang tiến dần đến sự hủy diệt tang thương mà trong đó có tất cả những người thân, thương yêu của chúng ta trong quá khứ, hiện tại, tương lai, sau đó mỗi cá thể đi theo biệt nghiệp hoặc cộng nghiệp phải trả và cứ như vậy không cách nào né tránh được.

             Chí thành học Phật, chí ít chúng ta cũng không cho "duyên" nghiệp xấu phát khởi (NHÂN + DUYÊN = QUẢ) khỏi rơi vào ba cõi xấu là súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, phải trải qua nhiều nhiều kiếp oan oan tương báo khổ đau luân hồi, biết bao giờ mới lại được làm người để có dịp nghe, để hiểu, để có thể niệm Phật. Trong một đời này là quá ít thời gian để học Phật, dù chưa thành Phật nhưng chuyên tâm, chí thành cũng đạt quả vị A - La - Hán tự giải thoát khỏi lục đạo luân hồi của nghiệp báo NHÂN – QUẢ, hoặc đủ duyên Phật tổ A DI Đà tiếp dẫn về với thế giới Cực Lạc thế giới vô lượng thọ tu học Phật, đích cuối cùng là đạt quả vị Phật, đạt thành vô hạn.

              Hãy nhớ rằng mỗi ý niệm thiện lóe lên nơi thân phàm mỗi chúng ta lập tức biến thành sóng âm bay tràn đầy vào không gian pháp giới mười phương Chư Phật (lớn hơn rất nhiều đạt thành vô hạn so với "vũ trụ" theo cách nhìn hữu hạn của con người) và bắt đầu chúng ta có sự giao cảm với PHẬT – PHÁP, còn gì, có gì trên đời này có thể so sánh bằng một ý niệm thiện đạt thành vô hạn mà kêu tới tất cả Chư Phật trong pháp giới, tín hiệu này lập tức được Chư Phật, chư Bồ Tát nhận được, lập tức hồi âm lại cho chúng ta, tuy nhiên hầu hết do căn cơ mỗi chúng ta chưa đạt thành chí tâm chí thành cầu thị học Phật, thành tâm sám hối tội nghiệp hoặc chưa đủ thời gian, chưa cấu thành năng lực giao cảm tối thiểu để thâu nhận.

           Mỗi chúng sinh đều là Phật, vốn dĩ là Phật, đều có Phật tính A DI ĐÀ PHẬT chẳng qua vì mê lầm tưởng rằng hiện tại là mãi mãi nên ngụy biện trong vô thường, không biết rằng chúng ta đang ở trong hữu hạn, lấy hữu hạn là tiêu chí đùm đề, mải mê dong ruổi theo hữu hạn, chi tốn quá nhiều công sức thời gian cho nó, song hành với nó, tạo tác, quay cuồng cộng nghiệp chướng tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, sát sinh đoạt mạng... mà quên đi bản tính gốc của mình.

            Có bao giờ chúng ta dừng bước và tự hỏi sau khi dốc hết nhiệt huyết cho hữu hạn, trong bến mê mờ, thỏa mãn, đau khổ trong ngắn hạn này rồi mấy mươi năm sau bỏ lại trần gian thân xác này chỉ còn lại một mình, riêng một mình tâm thức mỗi chúng ta sẽ đi về đâu, phải trả nợ những gì, đau khổ ra sao, và được gì trong khi mọi thứ vẫn còn dang dở, bao yêu thương, hờn giận, công danh, tài sản, tứ ân chưa kịp báo đáp, ơn nghĩa cha, mẹ, anh em, vợ chồng, chưa lo lắng, thu vén hết trọn vẹn được cho con, cháu, chắt. Có phải ta yêu thương họ đến tột cùng của yêu thương không, nếu có vậy thì sao, thì sao chúng ta không tỉnh thức để mang lại lợi lạc cho tất cả, để báo đáp cho tất cả, để tránh cho tất cả những người chúng ta thương yêu không bị đọa vào khổ đau luân hồi nghiệp báo, làm được vậy mới đích thực là trọn đạo nhân - tâm, là nghĩa – tình, là yêu thương vô hạn.

Nam mô: Là nương tựa, là quy hồi, là thuận theo, là phụng thỉnh
A Di Đà Phật là: Vô lượng ức mười phương Chư Phật
Vô lượng Giác – Vô lượng Trí – Là tên gốc của tất cả các vị Phật

           Mỗi chúng ta hãy tìm lại chính mình, hãy nhìn nhận Vô thường – Hướng về vô ngã – Mở tâm từ bi. Không còn nhiều thời gian nữa, hãy tranh thủ từ 5 phút, từng 5 phút một trong cõi Ta - Bà này, bắt đầu từ một khởi niệm thiện, chúng ta sẽ thấy sự vi diệu của PHẬT – PHÁP và đoạn trừ VÔ MINH đã từ vô lượng kiếp bấy lâu ngự trị. Chúng ta bắt đầu từ: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

           Không có một vị thầy nào trên thế gian này Quán đảnh cho chúng ta tốt hơn là tự trong tâm chúng ta phát khởi chí tâm, chí thành quay đầu quy hồi Phật – Pháp.
                                                                                                                                                                                                              Nam Mô A Di Đà Phật

Trong sáu cõi sinh tử luân hồi:
Trời - Atula - Người - Súc sinh - Ngạ quỷ - Địa ngục
Làm người được xem là may mắn nhất vì có dịp nghe và thực hành Giáo Pháp nhưng chỉ có một số nhỏ lợi dụng được cơ hội vĩ đại này.

''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''''

PHẬT Ở ĐÂU

Thực trạng & con đường

Nhìn nhận vô thường:

        Thông thường theo nếp đã từ hàng ngàn năm chúng ta sống trong xã hội loài người, từ con học cha mẹ, học ông bà, tổ tiên, học trong xã hội, thâu nhận kiến thức, tri thức, sống, làm việc và cứ thế chúng ta cần mẫn qui phụng định luật: Sinh – bệnh – lão – tử (sinh – diệt), kế tiếp sau mấy mươi năm làm kiếp con người chúng ta vì muốn “vươn lên” trong cuộc sống nên tỏ rõ bản ngã như: Tham, sân, si, mạn, nghi, kiến, bởi chính lục căn thần thức này đã đẩy chúng ta đi trả nghiệp vào các cõi thấp sau khi chết như: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh…   

Chúng ta phải trả giá quá đắt cho đời sống hữu hạn này, phải trả giá quá đắt so với những

 
Về phong thủy
 

Phong thủy

(fungshui) là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống họa phúc của con người.
Về mặt từ nguyên thì

phong thủy

: phong có nghĩa là "gió", là hiện tượng không khí chuyển động và thủy có nghĩa là "nước", là dòng nước, tượng trưng cho địa thế. Hai chữ phong thủy còn chỉ phương pháp tìm kiếm và chọn lựa nơi trú ngụ hoặc mai táng cát tường phú quý, phúc thọ bình yên, tức là thuật Phong thủy. Giống như mọi ngành khoa học kỹ thuật cổ truyền khác ở Á Đông, thuật phong thủy cũng dựa vào dịch lí, thuyết âm dương và ngũ hành.